Những câu hát châm biếm

bài hát châm biếm

Dạy

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN CÓ

Đầu tiên. Bốn câu ca dao trào phúng phê phán, chế giễu những người lười biếng, nhiều tật xấu (câu 1); giễu cợt, phê phán thầy bói” (bài 2); châm biếm tục ma chay (bài 3) và châm biếm bọn thống trị – tay sai của bọn thống trị (bài 4).

2. Những câu thơ trào phúng đã thể hiện khá tập trung những nét đặc sắc của nghệ thuật trào phúng dân gian: sử dụng ẩn dụ, tượng trưng, ​​biện pháp đối đáp, giễu nhại, cường điệu. Những câu thơ đó đã phê phán những thói hư, tật xấu của những con người, những thứ đáng cười trong xã hội.

II – HƯỚNG DẪN ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

Đầu tiên. Bài 1 giới thiệu chú của em là ai Đẹp (nghĩa là Tốtnhưng cũng có nghĩa là thích, thèm, nghiện) đồ đạc: rượu, trà mạnh, giấc ngủ. Anh cũng là một người “mộng giàu”, nhưng lúc nào cũng mơ để khỏi phải đi làm, được ngủ ngon giấc.

Hai câu đầu có ý nghĩa mở bài và giới thiệu nhân vật. Trước khi đưa hình ảnh của chú tôi, yếm đào được nhắc đến như một nhân vật để chú của anh ấy cầu hôn. đảo hoa hậu là hình ảnh của một cô gái xinh đẹp. thật là tò mò chú tôi Là gì.

Ca dao châm biếm những kẻ nghiện ngập, lười biếng trong xã hội.

Tham Khảo Thêm:  Chính tả: Nghe – viết: Trần Bình Trọng – Phân biệt l/n, iêt/iêc

2. Bài 2 nhại lại lời thầy bói nói với cô gái muốn giải mã vận mệnh của mình. Lời của thầy bói đều hiển nhiên và mơ hồ, không có gì dứt khoát. Nếu bạn không giàu, rõ ràng là bạn nghèo. Ai mà không có thịt treo trong nhà dịp Tết. Ai không phải do cha mẹ sinh thành. Tất nhiên cha phải là đàn ông, mẹ là phụ nữ. Ngược lại là gì? Sinh con trai hay con gái cũng vậy. Đó là một lời nước đôi, nói dựa trên thực tế, không có gì để tính toán cả.

Bài viết phê phán hiện tượng mê tín dị đoan trong xã hội. Không chỉ chế giễu bọn lang băm, nói nước đôi, bàn chuyện kiếm tiền, bài ca dao còn phê phán những kẻ cả tin, mất tiền vào tay kẻ dối trá. Bài hát có nội dung tương tự, ví dụ: Nhấp nháy, lại cheng cheng... (Đọc thêm); Để cô ấy có một con chó đen — Người lạ cô ấy quan tâm, những người biết cô ấy hạnh phúc.

3. Mỗi con vật trong bài 3 tượng trưng cho một loại người dân quê: con cò là người dân; Ca dao tượng trưng cho các chức sắc trong làng; Con chim là người có địa vị, có phần sau khi ăn uống; chào mào là người phục vụ đám tang (phường kèn, phường trống); Con chim chích như cái mỏ báo tin cho mọi người trong làng. Việc lựa chọn động vật như vậy đề cập đến thế giới động vật mà còn liên quan đến thế giới con người của ngôi làng. Trong phong tục ma chay ở quê có nhiều loại người, nhưng chỉ thoáng qua chứ không chỉ một người thật cụ thể. Sự châm biếm trở nên kín đáo.

Tham Khảo Thêm:  Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ (trích Chinh phụ ngâm)

Khung cảnh ồn ào náo nhiệt, không phù hợp với gia đình đau buồn của một người đã khuất. Cái chết biến thành một dịp ăn uống vô độ và chia sẻ.

Bài hát châm biếm, phê phán tục chọn ngày, ăn vạ, chia chác ồn ào trong xã hội cũ.

4. Bài 4 miêu tả chân dung người lính khá sinh động: anh ta mặc quân phục nhưng tay lại đeo nhẫn để khoe sự giàu có và cũng để khoe đẳng cấp: kẻ cầm quyền chứ không phải kẻ sĩ. Cai là chỉ huy, cấp trên. Anh ấy rất oai phong, nhưng anh ấy thực sự là người như thế nào? Phải mất ba năm để họ gửi các quan chức công cộng. Áo mượn, quần thuê. Cái áo và cái quần rẻ đến mức phải đi thuê, đi mượn, rồi chiếc nhẫn kia chắc cũng đi mượn, cũng đi thuê. Ông trùm xuất hiện như một con bù nhìn trong bộ quần áo đi mượn, cố tỏ ra uy nghiêm nhưng thật đáng thương.

Cái trớ trêu của bài ca dao là sự phóng đại (ba năm lầm đường; áo cho mượn); là đối lập (sự uy nghiêm, sang trọng của ngài đối lập với sự đi thuê, mượn những thứ tầm thường như áo ngắn, quần dài; kể cả việc ngài mới đi kinh lý ba năm, thực ra làm tay sai cũng khá vẻ vang). .

III – HƯỚNG DẪN ĐÀO TẠO

Đầu tiên. Ý kiến ​​xác đáng nhất về sự giống nhau của cả 4 bài là: cả 4 bài đều có nội dung châm biếm, châm biếm.

Tham Khảo Thêm:  Tập đọc: Buôn Chư Lênh đón cô giáo

2. Những câu châm biếm trên có điểm giống với truyện cười dân gian ở chỗ đối tượng châm biếm là những thói hư, tật xấu, những con người đáng cười trong cuộc sống. Hình thức trào phúng là dùng phép phóng đại, chỉ ra mâu thuẫn của sự vật.

Mai Thư

Có thể bạn quan tâm

Related Posts

Trả bài tập làm văn số 3

Trả bài tập làm văn số 3 Dạy Em đọc kĩ các câu hỏi và yêu cầu trong SGK trang 149. Sau đó em đọc lại các…

Mẹ hiền dạy con – Văn mẫu vip

Mẹ hiền dạy con Dạy I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN CÓ Đầu tiên. Mạnh Tử (372 – 289 TCN) tên là Mạnh Kha; Sinh ra…

Tính từ và cụm tính từ

Tính từ và cụm tính từ Dạy I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN CÓ 1. Tính từ – Tính từ là những từ chỉ đặc điểm,…

Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng

Bác sĩ tốt nhất là trong trái tim Dạy I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN CÓ Đầu tiên. Tóm tắt câu chuyện Ông Phạm Bân có…

Nhân vật giao tiếp – Văn mẫu vip

nhân vật giao tiếp Dạy bài tập 1 Một) Trong các hoạt động giao tiếp trên, chủ yếu có hai chủ thể giao tiếp. Một là Anh…

Khái quát văn học Việt Nam từ đầu Cách mạng tháng Tám 1945 đến thế kỉ XX

Khái quát văn học Việt Nam từ đầu Cách mạng tháng Tám 1945 đến thế kỷ XX Dạy I. KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ GIẢI…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *