Làng (trích) – Văn mẫu vip

Làng (trích)

Dạy

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN CÓ

Đầu tiên. Nhà văn Kim Lân tên khai sinh là Nguyễn Văn Tài (1920-2007), quê ở Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh.

Nhà văn Kim Lân trải qua hoạt động văn nghệ cứu nước, trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, công tác tại chiến khu Việt Bắc. Nguyên là Ủy viên Ban phụ trách Nhà xuất bản Văn học, Trường Bồi dưỡng cây bút trẻ, Tuần san Nghệ thuật, Nhà xuất bản Tác phẩm mới.

“Kim Lân là nhà văn chuyên viết truyện ngắn. Những năm 1941 – 1944, ông viết báo khá đều đặn Tiêulý thuyết thứ bảyChủ Nhật Bắc Trung Bộ. Thế giới nghệ thuật của ông chỉ tập trung vào khung cảnh làng quê cùng với cuộc sống và thân phận của người nông dân. tác phẩm đầu tiên (Con của vợ lẽ, Con của dì, Cô Hương vị, Ông già, ..) ít nhiều mang tính chất tự sự nhưng vẫn có ý nghĩa xã hội nhất định. Những người dân quê hương, gần gũi với ông đã trực tiếp bước vào tác phẩm từ cuộc sống nghèo khổ, đói khổ, tự nó đã toát lên ý nghĩa hiện thực, mặc dù nhà văn chưa ý thức được điều đó.

Kim Lân viết rất hay về cái gọi là “thú nhà quê” hay “kiểu nhà nông”. Đó là những thú vui lành mạnh mang đậm màu sắc văn hóa truyền thống của người dân quê như đấu vật, nuôi chó săn, chọi gà, thả chim,… Truyện của Kim Lân viết về phong tục.Đuổi tà, Thành đôi, Ngựa, Chó săn, Pháo Đồng Kỵ, Thổi ống đồng, Chim tông chủ, Ống điếu, Thượng tướng Trần Quang Khải, Tràng tuồng,..) Nó hấp dẫn không chỉ vì đã cung cấp kiến ​​thức về phong tục mà chủ yếu là do nhà văn đã cho thấy cuộc sống và con người của làng quê Việt Nam cổ truyền tuy nghèo khó, thiếu thốn nhưng vẫn có nhiều thú vui tao nhã. Những con người chân chất, giản dị nhưng thông minh, hóm hỉnh và tài hoa đã dồn hết tâm huyết vào những thú chơi giản dị, tao nhã và tinh tế ấy, hệt như tâm hồn nghệ sĩ vậy. đam mê sáng tạo nghệ thuật.

Sau 1945, Kim Lân tiếp tục viết về làng quê Việt Nam. Ông thường viết về cuộc sống đáng thương, khốn khổ của người nông dân dưới chế độ cũ và sự đổi đời của họ nhờ cách mạng. TRONG con số tác phẩm viết về chủ đề này, Làng, Vợ nhặt xứng đáng vào thể loại truyện ngắn xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại (Theo từ điển văn học, bộ mới, số điện thoại).

Tham Khảo Thêm:  Soạn bài: Tập làm văn: Ôn tập về tả cảnh

Công việc chính: Vì vậy, một người vợ phải là một người chồng (tập truyện ngắn, 1955); con chó xấu xấu xí (tập truyện ngắn, 1962); Hiệp Sĩ Người Gỗ, Ông Cán Ngũ.

2. Truyện ngắn Làng bản Được nhà văn Kim Lân viết trong thời kỳ đầu kháng chiến chống Pháp và đăng lần đầu trên tạp chí Nghệ thuật năm 1948.

3. Tóm tắt: Ông Hai chợt nghe tin làng mình theo giặc. Từ đó, “ông già gân cổ, mặt tê tái”, mang theo nỗi ám ảnh nặng nề, thậm chí “cúi đầu bước đi”. Suốt mấy ngày trời, ông luôn chạnh lòng, đau đớn, tủi hổ khi nghe tin làng mình theo giặc vì ông rất yêu làng, yêu nước. Khi nhận được tin cải chính, ông mừng như người chết đi sống lại.

II – HƯỚNG DẪN ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

Đầu tiên. Truyện ngắn Làng bản đã xây dựng được tình huống truyện bộc lộ sâu sắc tình yêu làng, yêu nước ở nhân vật ông Hai. Đó là hoàn cảnh khi cái tin làng ông theo giặc lập gia đình mà chính ông nghe được từ miệng những người lưu lạc qua vùng mình.

2. Diễn biến tâm trạng và hành động của nhân vật ông Hai từ lúc nghe tin làng mình theo giặc đến hết truyện:

– Khi biết tin quá đột ngột, “ông già đơ cả cổ, mặt tái đi…”

– Kể từ đó, anh Hải bị ám ảnh nặng nề, thậm chí “vừa đi vừa cúi đầu”;

– Mấy ngày nay anh luôn do dự…

Ông Hai đau đớn, tủi hổ khi nghe tin làng mình theo giặc bởi ông rất yêu làng, yêu nước.

3. Đoạn ông Hai nói chuyện với người con út, ông Hai thể hiện thật cảm động về tình yêu làng Chợ Dầu sâu nặng, lòng trung thành với kháng chiến, với Bác Hồ.

4. Nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật được thể hiện qua tình huống và cách miêu tả cụ thể – đặc biệt là miêu tả tâm trạng trong nỗi ám ảnh của ông Hai.

Ngôn ngữ truyện đậm chất ngôn tình, gần gũi với đời sống.

III – HƯỚNG DẪN ĐÀO TẠO

Đầu tiên. Tham khảo bài viết để trả lời câu hỏi: “Tác giả đã sử dụng những biện pháp gì để miêu tả tâm lí nhân vật?”.

Tham Khảo Thêm:  Tập đọc: Hơn một nghìn ngày vòng quanh trái đất

“Cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, hưởng ứng lời kêu gọi của Bác Hồ, nhiều thành phố, làng xã ven đô hoặc các địa phương trọng điểm đã giải tán. Nằm trong vùng kháng chiến, làng Chợ Dầu của ông Hai phải sơ tán. Phải dời làng ra đi nhưng tình cảm của ông Hai luôn gắn bó với làng quê. Tình cảm đó thể hiện trước hết ở tính khoe khoang, tự hào về làng của mình. Với anh, cái gì ở làng quê cũng đáng tự hào.

“Ông ấy nói về làng với sự say mê và nhiệt tình lạ thường. Mắt nó sáng, mặt hoạt bát.” Anh khoe làng anh có phòng thông tin khang trang nhất vùng, có chòi truyền thanh, nhà ngói, sầm uất nhất tỉnh. đá xanh.

Niềm tự hào về “bộ mặt” làng quê không có gì lạ bởi nó xuất phát từ tình yêu quê hương, nhưng đôi khi tình yêu ấy khiến anh trở nên thái quá. phần sinh hoạt” của quan trưởng làng mình. Khi có khách đến chơi, ông lấy ra xem có được phần đó không.

Nhưng chỉ sau Cách mạng Tháng Tám, ông mới nhận ra sai lầm của mình bởi chính những điều ông tự hào trước đây đã làm khổ ông và làm bao người dân trong làng khốn khổ. Sự khập khiễng của anh bây giờ cũng là vì nó. Bạn rất ghét nó, nó không đáng để bạn tự hào nữa.

Từ ngày tham gia kháng chiến, ông tự hào không chỉ vì làng mình đẹp mà còn vì làng mình tham gia kháng chiến. đào hầm chuẩn bị kháng chiến.

Khi nghe anh dân quân đọc báo về cuộc kháng chiến, ông vui mừng trước chiến công của ta, ông hả hê trước sự thất bại của kẻ thù, khiến “Ruột già cứ nhảy múa, vui quá!”. Nhưng khổ cho ông là làng Chợ Dầu của ông theo giặc. Ông già trở nên sững sờ “cổ ông thắt lại, da mặt tê dại”. Ông già im lặng, như không thở được.

Lâu nay ông luôn tự hào về ngôi làng ấy, vậy mà giờ nó bỗng sụp đổ. Bản thân anh cảm thấy mình đang mang nỗi xấu hổ của một người đàn ông Việt Nam. Anh cúi đầu về nhà nằm vật ra giường. Có lẽ từ nay nó không còn mặt mũi nào nhìn hàng xóm, nó không dám bén mảng đến nhà bác Thu nữa. Có lẽ chỉ những người yêu làng sâu nặng mới chịu tủi nhục như vậy. Giờ đây, trong lòng ông luôn trăn trở giữa hai suy nghĩ: về làng hay ở lại”, ở lại đây thì ông còn mặt mũi nào mà đi đâu, nhưng “về làng là bỏ kháng chiến, bỏ cụ Hồ”. Ông nghĩ “làng thì yêu thật, nhưng nếu làng theo Tây thì phải thù”.

Tham Khảo Thêm:  Bàn luận về phép học (Luận học pháp)

Nhưng cuối cùng, điều ông Hai chờ đợi đã đến: ông trưởng thôn tuyên bố làng Chợ Dầu không theo Việt gian. Anh vui mừng khôn xiết. Anh về khuya mặt mày rạng rỡ, còn phát quà cho lũ trẻ, rồi anh đến nhà chú Thu, đi khắp nơi tuyên bố làng mình không theo giờ Việt Nam với mọi người.

Ở ông Hai luôn có một tình yêu làng cháy bỏng. Nét mặt ông hiện rõ: ông vui khi kể về làng Chợ Dầu của mình và ông thấy nhục nếu làng theo giặc. Ông Hai là người tiêu biểu cho những chuyển biến mới trong tình cảm của người Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp. Nông dân đã nhận thức rõ hơn về vai trò và nghĩa vụ của mình đối với sự nghiệp giải phóng. Ý thức đó đã biến thành những hành động cao đẹp và tốt đẹp.”

2. Có nhiều bài thơ viết về làng. Các em có thể tham khảo bài thơ sau để trả lời câu hỏi: ” Hãy nêu những nét đặc sắc của truyện Làng bản”.

ĐÊM ĐÊM

Chứng mất ngủ. Thức cùng làng

Chẳng lạ nhà, lạ mưa gió

Cha đi xứ không về,

Hình ảnh trên bàn thờ bị mờ

Khoảng trống quá mênh mông.

làng tử tế. Cuộc sống làng quê yên tĩnh

cung cấp cho mỗi giọng nói âm sắc riêng của mình

Làng quê khắc khoải mỗi khi tôi tự hỏi:

‘Ngoài lãng quên, dòng sông nhận được gì?’

Tiếng hót líu lo của chim sẻ nâu, tiếng chim hót trong trẻo

bầu trời tuổi thơ xanh cổ tích

Nắng có mưa, nóng có lạnh

hồn quê mộc mạc nơi mẹ nuôi tôi khôn lớn.

Trong bâng khuâng nhớ quên

làng vẫn thế. Cánh đồng vẫn vậy

Hè về tay cuốc ruộng vỡ

lúa nghẹn trắng xác mùa rơm.

Tôi tan vào hương thơm lúa non

cảm nhận những từ gốc của trái đất

Cái gì còn – cái gì sẽ mất?

Ngôi làng rộn ràng với niềm khao khát khác thường.

Chợt tưng bừng tiếng gà gáy sang canh

Có tiếng tàu đâm sầm vào nhau.

(Nguyễn Trọng Hoàn, Gió và nhớ, Nxb Hội Nhà Văn, Hà Nội, 2000)

Mai Thư

Có thể bạn quan tâm

Related Posts

Trả bài tập làm văn số 3

Trả bài tập làm văn số 3 Dạy Em đọc kĩ các câu hỏi và yêu cầu trong SGK trang 149. Sau đó em đọc lại các…

Mẹ hiền dạy con – Văn mẫu vip

Mẹ hiền dạy con Dạy I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN CÓ Đầu tiên. Mạnh Tử (372 – 289 TCN) tên là Mạnh Kha; Sinh ra…

Tính từ và cụm tính từ

Tính từ và cụm tính từ Dạy I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN CÓ 1. Tính từ – Tính từ là những từ chỉ đặc điểm,…

Thầy thuốc giỏi cốt nhất ở tấm lòng

Bác sĩ tốt nhất là trong trái tim Dạy I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN CÓ Đầu tiên. Tóm tắt câu chuyện Ông Phạm Bân có…

Nhân vật giao tiếp – Văn mẫu vip

nhân vật giao tiếp Dạy bài tập 1 Một) Trong các hoạt động giao tiếp trên, chủ yếu có hai chủ thể giao tiếp. Một là Anh…

Khái quát văn học Việt Nam từ đầu Cách mạng tháng Tám 1945 đến thế kỉ XX

Khái quát văn học Việt Nam từ đầu Cách mạng tháng Tám 1945 đến thế kỷ XX Dạy I. KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ GIẢI…

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *